Sư Nữ Phù Cừ

Khái lược Sư nữ xứ Huyền ca Văn hiến Sư nữ tục danh Nguyễn Thị Xuân, đạo hiệu Phù Cừ,...

Khái lược Sư nữ xứ Huyền ca Văn hiến

Sư nữ tục danh Nguyễn Thị Xuân, đạo hiệu Phù Cừ, sinh năm Canh Tuất tại tỉnh Thanh Hóa, triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Bảo Thái nguyên niên (1720), trong gia đình quyền quý, kính tin Tam bảo, hộ trì Phật pháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Đình Tú hiệu Long Thu, Nguyễn Nghi Tiên sinh, nhà Phật học uyên thâm, vị danh tướng di thần nhà Lê. Thân mẫu qua đời trong cuộc chiến thảm khốc biên cương Ai Lao do giặc Sa Tốt gây ra. Lúc ấy, Thị Xuân vừa lên 10 tuổi, phải cải nam trang theo cha và người anh trai vào Nam.

Năm Kỷ Dậu (1729), ba cha con xuôi thuyền về phương Nam đến vùng đất mới, cực Nam tổ quốc, biên cương Việt Nam – Campuchia, được Khai trấn Mạc Cửu tiếp đãi trọng hậu, mời lưu lại trấn phủ Hà Tiên giúp đặt nền móng giáo dục đào tạo nhân tài, làm gia sư truyền dạy thơ văn, võ nghệ và kỹ năng lãnh đạo cho công tử Mạc Thiên Tích. Dẫu vậy, Thị Xuân vẫn phải giấu mình trong lớp áo thư sinh để tiện việc đèn sách.

Năm Ất Mão (1735), Quốc công Mạc Cửu từ trần, được Chúa Nguyễn Túc Tông Ninh Vương hiệu Văn Truyền đạo nhân ban chỉ sắc tặng cho Mạc Cửu chức Khai trấn thường trụ quốc đại tướng quân, Vũ nghị công Cửu lộc hầu và sắc phong cho Mạc Thiên Tích chức Tổng binh khâm sai Đại Đô đốc Hà Tiên trấn.

Đầu xuân năm Bính Thìn (1736), Tổng binh Khâm sai Đại Đô đốc Hà Tiên bố cáo cho toàn thể nhân dân trong trấn được thưởng xuân từ Tết Nguyên đán cho đến Tết Nguyên tiêu. Đặc biệt, đêm rằm tháng Giêng, ngài Tổng binh tổ chức hội hoa đăng và khai mạc Tao Đàn Chiêu Anh Các, triệu tập các bậc văn hào, thi nhân nghệ sĩ nhả ngọc phun châu thi tài ứng đối.

Trong đêm mở hội, khi Thị Xuân hoàn thành xuất sắc chủ đề xướng hoạ do Chủ soái đề ra thì cũng là lúc Mạc Tổng trấn phát hiện chân tướng chàng thư sinh ấy vốn là phận nữ nhi tuổi tròn đôi tám.

Và khi biết rõ “lai lịch” nàng thơ tài sắc vẹn toàn ấy, Tổng binh Hà Tiên trấn liền cho sắm bày lễ vật xin cưới làm thứ thiếp.

Sau Tết Đoan Ngọ năm Đinh Tỵ (1737), việc tiến nạp nàng Thị Xuân kể như đã định; nhưng đến Tết Thượng Nguyên năm Mậu Ngọ (1738) thì lễ nghinh hôn mới tiến hành. Bởi vì còn trong tang chế 3 năm của cố khai trấn Mạc Cửu, cũng như trong thời gian này, Mạc tướng công xây dựng Điệp Thuý Lâu cho Thị Xuân.

Sau khi chính thức làm thứ thiếp, Thị Xuân được xem như là vị Thư ký đắc lực vừa trợ lý Tổng trấn vừa tiếp nối sự nghiệp phụ thân, góp phần giáo dục đào tạo nhân tài cho địa phương.

Tại quê hương Hà Tiên thứ hai này, bà được thân sinh hướng dẫn tu học Phật pháp và quy y làm đệ tử Sư tổ Minh Dung Pháp Thông (?-1749), khai sơn trụ trì Địa Tạng Sơn Địa Tạng Tự.

Sau khi thọ Thập thiện-Bồ tát giới, bà cầu học Phật pháp với các vị danh tăng đương thời như Thiền sư Ấn Đàm (1662-1737), trụ trì Vân Sơn Bạch Tháp Tự….

Năm Kỷ Tỵ (1749), Tổ sư Minh Dung Pháp Thông viên tịch, Phù Cừ cùng phu quân Tổng trấn Hà Tiên lo tang lễ và xây bảo tháp an táng Hòa thượng Bổn sư tại Tổ đình Địa Tạng Tự.

Năm Canh Ngọ (1750), Tổng trấn Hà Tiên khánh thành ngôi Già lam và đặt tên Phù Dung Tự hàm nghĩa tinh khiết và tươi đẹp như đóa hoa sen.

Năm Nhâm Thân (1752), Sư nữ Phù Cừ theo đoàn Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích về quê cha đất tổ, làng Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông để dâng hương tưởng niệm tổ tông dòng tộc họ Mạc. Dịp này, Tổng trấn đã mua sắm rất nhiều văn hóa phẩm Phật giáo, pháp khí tượng thờ, trong đó có bộ tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu hiện tôn thờ tại Chùa Phù Dung cũng như thỉnh rất nhiều kinh sách Phật giáo, đặc biệt là bộ “Gia Hưng Tạng”, phiên bản Đại tạng kinh mộc bản, được thực hiện từ thời nhà Minh sang đến thời nhà Thanh, cúng dường tôn trí tại các ngôi chùa tại Hà Tiên và các nơi khác.

Sau, do binh lửa chiến tranh nên những “thư tịch quý báu ấy” không tồn tại. Riêng bộ “Gia Hưng Tạng” hiện được bảo tồn nguyên vẹn tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà, Bình Định.

Sau chuyến thăm lại cố hương phu quân đó, bà dành thời gian nhiều hơn nữa trong việc nghiên cứu Tam tạng Thánh điển Phật giáo. Từ đây, bà ngộ lý vô thường, thức tỉnh kiếp nhân sinh huyễn hóa nên quyết tìm đường giải thoát, đoạn tuyệt duyên thơ với Mạc tướng công.

Biết không lay chuyển được ý nguyện tu học phật pháp của Ái cơ, Mạc tướng công nén lòng xúc cảm gật đầu ưng thuận cho nàng thỏa nguyện tu hành. Xuất gia xong, Bà nhập thất chuyên tu tập thiền định tại ngôi già lam Phù Dung Tự gắn liền với biên cương tổ quốc.

Về việc tạo lập am thiền vốn theo bước người xưa buổi đầu mở đất, trước dựng chùa, sau mới an cư lạc nghiệp cho dân đã được dân gian truyền tụng: “Hà Tiên đất Phật người Hiền”.

Thời gian tu hành, vị Sư nữ gốc vương giả ấy đã luôn song hành với đoàn người đi mở đất, dưới sự chủ trương của Quốc chúa Minh Vương Bồ tát Nguyễn Phúc Chu, pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng lấy tinh thần phật pháp định hướng cho đời sống dân tộc, mở đất phương Nam bằng con đường Phật giáo, đến đâu đều dựng chùa thỉnh cao Tăng hoá độ.

Một hôm, vào ngày vía Phật Niết Bàn lần thứ 2304, rằm tháng Hai năm Tân Tỵ (21/3/1761), quán nhân duyên Ta bà quả mãn, hóa duyên ký tất, bà an nhiên thị tịch, hưởng dương 41 xuân, với hơn thập niên làm xuất sĩ thiền môn. Nhục thân Sư nữ an táng dưới chân Bình San Điệp Thúy, nơi Phù Dung cổ tự hiện nay.

Sư nữ Phù Cừ, nhân vật nổi tiếng và có nhiều cống hiến trong việc đặt nền móng giáo dục đào tạo, đạo đức nhân văn, văn hóa nghệ thuật và truyền bá triết lý đạo Phật… Vì cảm kích, hậu thế đã thêu dệt cuộc đời sự nghiệp của bà bằng nhiều thể loại văn học nghệ thuật khác nhau chung quy ca ngợi bậc nữ lưu Thích tử với tình yêu quê hương, đất nước con người, thiên nhiên vạn vật Hà Tiên thơ mộng.

Vì nêu bật tài năng xuất chúng và đức hạnh cao khiết của Sư nữ Phù Cừ, tác giả hư cấu bi kịch, bà vợ lớn ghen ghét, bắt bà nhốt trong chậu úp. May phúc được phu quân Tổng trấn Mạc Thiên Tích cứu thoát chết thì bà vợ lớn lại cho uống thuốc tuyệt tự nhưng thực sự là bà cùng Tổng trấn sinh được một người con trai tên Mạc Tử Chú, là người dựng bia mộ cho bà.

Dù huyền sử hay chính sử thì câu chuyện về Sư nữ chùa Phù Dung vẫn mãi lung linh trong lòng người dân Hà Tiên và du khách viếng thăm ngôi cổ tự.

Nam mô Phù Dung đường thượng, Khai sơn tạo Tự, Thọ Bồ tát giới pháp húy Phù Cừ, Giác linh liên hoa tọa hạ.

Tác giả: Thích Vân Phong

Lên đầu trang