Hà Tiên — Đất Phật Người Hiền

Hà Tiên đất Phật người Hiền – xứ Huyền ca Văn hiến Hà Tiên, xứ du lịch Sinh thái –...

Hà Tiên đất Phật người Hiền – xứ Huyền ca Văn hiến

Hà Tiên, xứ du lịch Sinh thái – Văn hóa – Tâm linh, có vị trí chiến lược quan trọng tại vùng biên giới Tây Nam, với đường biên giới đất liền dài 13,7 km phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Kampot (Campuchia), Tây giáp vịnh Thái Lan với đường biển dài 26km. Đây là cửa ngõ giao thương quốc tế, kết hợp giữa du lịch biển đảo và kinh tế cửa khẩu, góp phần giữ vững an ninh quốc phòng. Hà Tiên với diện tích 107,92 km², trong đó có 100,49 km² diện tích tự nhiên, dân số là 59.744 người, dự báo đến năm 2040 khoảng 224.000 người.

Hà Tiên nằm ở điểm cuối cùng của vùng đất Tây Nam tổ quốc. Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo, . . . tạo nên nhiều cảnh quan – thổi hồn thiên nhiên vào cuộc sống.

Với vị trí địa lý và hoàn cảnh xã hội đặc biệt này, Hà Tiên, xứ Huyền ca Văn hiến xưa, xứ du lịch ngày nay, từ thuở sơ khai đến nay, là nơi hội tụ của nhiều cộng đồng dân tộc anh em, trong đó, người Kinh, Hoa và Khmer là chiếm số lượng đông nhất.

Sự cộng cư hoà hợp đó, sự giao thoa văn hoá qua lễ hội, kiến trúc, tín ngưỡng đã tạo nên một đời sống tâm linh phong phú của vùng Tây Nam nước Việt. Đây là vùng đất giàu bản sắc văn hóa đặc thù và da dạng. Từ đó, Hà Tiên phát triển dần dần trở thành “xứ Huyền ca Văn hiến” xưa và nay đã trở thành một xứ du lịch Sinh thái – Văn hóa – Tâm linh.

Hà Tiên khi xưa có các tên Phương Thành, Mang Khảm, Trúc Phan, hay Đồng Trụ. Thuở ấy là một vùng đất hoang sơ, vô quản, dân cư thưa thớt. Hà Tiên kể từ tháng 8 năm Mậu Tý (1708), thời điểm Mạc Cửu quyết định dâng biểu lên Quốc Chúa Bồ tát Minh Vương Nguyễn Phúc Chu xin dâng đất Hà Tiên và thần phục Đại Việt Quốc Nguyễn chúa. Quốc Chúa Bồ tát Minh Vương Nguyễn Phúc Chu chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước cho là “Cửu Ngọc Hầu”.  Vùng đất xứ Phật người Hiền này đã qua hơn 3 thế kỷ, hơn 5 vòng xoay “lục hoa giáp” và cũng đã qua bao nhiêu thăng trầm để nên dáng hình một Hà Tiên hôm nay.

Năm Ất Mão (1735), Quốc công Mạc Cửu từ trần, trưởng nam là Mạc Thiên Tích, kế vị. Chỉ trong vòng chưa đầy 20 năm, Mạc Thiên Tích đã đưa Hà Tiên vào một giai đoạn thịnh đạt cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, quan hệ quốc tế lẫn văn hóa. Ông đã xây dựng Hà Tiên thành vùng đất trù phú, đô thị sầm uất, giao thương với nhiều nước như Campuchia, Thái Lan, Nhật bản, Indonesia, Malaysia, và các nước phương Tây… xây dựng một khu phố dành cho người nước ngoài lưu trú, sinh hoạt văn hóa thương mại, tạo cho nhân dân vùng đất Hà Tiên an cư lạc nghiệp, hạnh phúc ấm no.

Quốc lão Mạc Thiên Tích rất thông thạo về ngành Ngân hàng, Tài chính và Tiền tệ, vì thế được Chính quyền Đại Việt Quốc Nguyễn chúa tin cậy, giao trọng trách mở xưởng đúc tiền tại Hà Tiên, đúc tiền bằng kim loại tiền đồng xu “An Pháp Nguyên Bảo” (安法元寶) và được thông hành tại Đàng trong, miền Nam Việt Nam thời đó. Lễ rót đồng đúc tiền vào ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Thìn (1736).

Về văn hoá, lần đầu tiên trên vùng đất mới, hoạt động sáng tác văn chương cũng như in ấn, truyền bá sách vở chữ Hán nôm trở nên sôi động. Vùng duyên hải Hà Tiên biến thành một trung tâm văn hóa, được ví như “trời Châu, đất Lỗ” của phương Nam. Tâm điểm của sinh hoạt văn chương Hà Tiên – theo nhà giáo, nhà thơ, chuyên gia nghiên cứu tiếng Việt và là một người nhiệt tình với văn hóa dân tộc Việt Nam, cha đẻ Thư pháp Việt ngữ (dùng bộ chữ cái La-tinh) Cư sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969) – chính là “Tao đàn Chiêu Anh các”.

Cùng năm Bính Thìn (1736), một sự kiện quan trọng về văn hóa trong thời kỳ đầu quản trị Hà Tiên của Quốc lão Mạc Thiên Tích (Mạc Thiên Tứ, Mạc Tông) hiệu Thụ Đức Hiên là sự ra đời của “Tao Đàn Chiêu Anh Các”, và lễ hội Hoa Đăng cầu Quốc thái Dân an. Đây là Tao đàn thứ 2 của Việt nam sau Thi Đàn…. Chỉ trong vòng 01 năm, từ năm 1736 đến năm 1737, với 10 bài “xướng” của tác giả Mạc Thiên Tích cho 31 tác giả (gồm: 25 tác giả người Hoa, 6 tác giả người Việt) đã có 310 thi phẩm “hoạ”, tạo thành một thi tập 320 tác phẩm. Các tác phẩm này vừa mang giá trị văn hóa vật thể vừa mang giá trị văn hoá phi vật thể, tiêu biểu là tập thơ “Mười cảnh đẹp của Hà Tiên”.

Song song đó là các hoạt động về văn hóa, tôn giáo và giáo dục, kết quả của sự tiếp đón, chiêu đãi hiền tài, mở trường dạy ngôn ngữ hán nôm… Với hoạt động này, Hà Tiên đã gây ấn tượng trong giới văn nhân thời đó đến độ nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) sau khi xem được tập “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh” theo bản khắc gỗ in của Mạc Thiên Tích, đã không tiếc lời khen ngợi và thốt lên rằng “không thể bảo rằng ở vùng hải ngoại xa xôi không có văn chương vậy” và tác giả Trịnh Hoài Đức (1765-1825) ở sách “Gia Định thành thông chí” (Canh Thìn-1820) thì ca ngợi rằng đây là “Văn chương rực rỡ ở góc biển bên trời”.  Sau này trở thành bản sắc đặc thù của hàng ngũ trí thức Hà Tiên:

“Tao đàn Chiêu Anh Các muôn thuở truyền lưu Huyền ca Văn hiến

Dấu ấn họ Mạc, Nguyễn ngàn đời lan tỏa Phật giáo Nhân gian.”

Kế tục tiền nhân bước đầu mở đất, như Vua chúa nước Nam đã chọn đất dựng chùa trước nhất, dưới sự chủ trương của Quốc Chúa Bồ tát Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, lấy tinh thần Phật pháp định hướng cho đời sống dân tộc, Quốc công Mạc Cửu, Quốc lão Mạc Thiên Tích và Sư nữ Phù Cừ (Nguyễn Thị Xuân), đã đồng hành trong công cuộc mở đất phương Nam bằng con đường Phật giáo hầu giúp dân an cư lạc nghiệp lâu dài.

Giữa thế kỷ 18, Khâm sai Đô đốc Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích đã hai lần về quê nhà Quảng Đông, Trung Hoa 1752 – 1758 và đã thỉnh rất nhiều tượng Phật, Bồ tát, kinh sách Phật giáo và rất nhiều bộ “Gia Hưng Tạng” (嘉興藏), một phiên bản Đại tạng kinh mộc bản, được thực hiện từ thời nhà Minh sang đến thời nhà Thanh, cúng dường tôn trí tại các ngôi chùa địa bàn Hà Tiên và các nơi khác. Sau, do binh lửa chiến tranh nên những “thư tịch quý báu ấy” không tồn tại. Riêng bộ “Gia Hưng Tạng” hiện được bảo tồn nguyên vẹn tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà Tự, Bình Định.

Bước đầu mở đất, Hà Tiên có các cơ sở tự viện Phật giáo như Địa Tạng Sơn Địa Tạng Tự (phế tích), Tổ sư Minh Dung Pháp Thông (?-1749) trụ trì đầu tiên, Bạch Tháp Cổ Tự, Thiền sư Ấn Đàm (?-1737) trụ trì đầu tiên, Cổ Am Quán Thế Âm, Ni cô Tống Thị Sương sáng lập, Sắc tứ Tam Bảo Tự, Quốc công Mạc Cửu khai sơn, Phù Dung Cổ Tự, Quốc lão Mạc Thiên Tích kiến tạo năm Canh Ngọ (1750), Sư nữ Phù Cừ trụ trì đầu tiên và được xem là những công trình văn hóa Phật giáo tiêu biểu cho sự du nhập và phát triển Phật giáo vào Hà Tiên còn được bảo tồn đến nay.

Nhân dân Hà Tiên chủ yếu theo đạo Phật. Qua bao thăng trầm của lịch sử, đạo Phật luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần ở địa phương. Và miền đất này đã được mệnh danh:

“Huyền ca đất Phật người Hiền

Ngàn năm Văn hiến Hà Tiên lưu đời.”

Từ đó, đạo Phật được gieo mầm tuệ giác trên vùng đất phù sa, tạo nên nếp sống hiền hoà chân chất của ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer nơi miền biên ải.

“Hà Tiên tỏa ngát hương thiền

Của trăm năm cũ, nối truyền ngàn sau.”

Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, văn hoá bị mất hay bị đồng hoá cũng đồng nghĩa vong quốc. Nhận định rõ về nguồn gốc văn hóa Phật giáo ở Hà Tiên không những phát huy tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp xây dựng đời sống văn hóa tiên tiến của Hà Tiên trong cộng đồng văn hóa Việt Nam.

Tìm hiểu nguồn gốc hình thành, phát triển của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và Phật giáo sẽ giúp cho thế hệ người Việt hôm nay nói chung và thế hệ trẻ Hà Tiên nói riêng thêm hiểu, thêm yêu quý Hà Tiên. Ai chưa một lần được đến, thì ao ước trong đời một lần đến thăm vùng linh thiêng nơi đất trời Tây Nam Tổ Quốc.

Lên đầu trang