Quốc Lão Mạc Thiên Tích

Khái lược Cuộc đời và Sự nghiệp Quốc lão Mạc Thiên Tích Quốc lão Mạc Thiên Tích (Mạc Thiên Tứ,...

Khái lược Cuộc đời và Sự nghiệp Quốc lão Mạc Thiên Tích

Quốc lão Mạc Thiên Tích (Mạc Thiên Tứ, Mạc Tông) hiệu Thụ Đức Hiên, sinh năm Canh Thìn (1700) tại Kampot, nay là một tỉnh phía nam Campuchia; cha là Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ Nghị Công Mạc Cửu, Quảng Đông, Trung Hoa, và mẹ là bà Bùi Thị Lẫm, người phụ nữ Việt Nam, Biên Hòa, Gia Định.

Theo sử liệu, Mạc Thiên Tích vốn nhân từ trung thực, bản tính thẳng thắn, anh dũng đấu tranh vì chính nghĩa, song có thiên phú văn chương nghệ thuật, học rộng hiểu sâu kinh sử, lão thông bách gia chư tử. Đối với công việc nhà nước, chính sách và thái độ của ông có liên quan chặt chẽ đến với chế độ của Đại Việt Quốc Nguyễn chúa.

Thuở thanh xuân, Mạc Thiên Tích đã biểu lộ sự thấu hiểu, cảm thông, đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích cá nhân và luôn nghĩ tốt cho đối phương, luôn nhận được sự ủng hộ của nhân dân Hà Tiên. Việc Tứ lễ quan-hôn-tang-tế, ông đều thể hiện lòng hiếu thảo và sự tôn kính sâu sắc, mọi người đều quý trọng. Sau khi “Dâng sớ tấu lên triều đình” và được sự tin tưởng của thân phụ Mạc Cửu công cử, ông nhận sứ mệnh ngoại giao, đặc phái viên liên lạc với Thủ phủ của Chúa Nguyễn ở Huế.

Năm Bính Thìn (1736), ông thừa kế phụ thân nhậm chức Tổng binh Đô đốc Hà Tiên và thực sự trở thành người cai trị Hà Tiên. Trên cương vị lãnh đạo, ông tích cực thúc đẩy chính quyền dân sự trong nước để phổ biến sâu rộng và thành tựu về văn hoá giáo dục, quán triệt thực hiện chính sách quốc gia và kế tục cha mình, phục vụ chế độ của Đại Việt Quốc Nguyễn chúa.

Ở thế kỷ XVIII, tại Hà tiên, Mạc Thiên Tích đã khuếch trương một số hạn nghạch chế tác kim khí, chia đặt văn võ nha thuộc tuyển lựa quản binh, lập các cơ quan dân sự và quân sự, xây dựng các cơ quan chính quyền, dựng lâu đài, phân chia đường phố và mở chợ quán. Nói cách khác, ông đã cải thiện khả năng phòng thủ quân sự và các cơ sở hành chính của Hà Tiên. Ngoài ra, để thực hiện các bước đô thị hóa, ông “Quy hoạch khu thương mại” thu hút “doanh nhân và thương thuyền nhiều nước vãng lai”, thúc đẩy doanh nghiệp xã hội phát triển bền vững.

Hà Tiên trấn được xây dựng bởi những Hoa kiều đến từ nhiều nước khác nhau nên Mạc Thiên Tích cũng rất coi trọng việc đảm bảo cho họ được an cư lạc nghiệp. Ông đã xây dựng một khu phố đô thị lớn hình, xung quanh trấn lỵ dựng nhiều làng mạc, tạo điều kiện định cư cho những người dân các nước Campuchia, Trung Hoa, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản. . .

Dưới thời Mạc Thiên Tích lãnh đạo chính quyền, Phật giáo Hà Tiên rất hưng thịnh, các cơ sở tự viện Phật giáo có đông Tăng chúng tu tập; giáo lý đạo Phật và tông chỉ Thiền tông được truyền bá phổ cập cộng đồng. Mặc dù đứng đầu chính quyền là một Phật tử thuần thành nhưng thái độ của Mạc Thiên Tích rất cởi mở đối với các tôn giáo khác, tạo điều kiện tốt để truyền bá giáo lý bác ái của Đức Chúa.

Đặc biệt, Đại Việt Quốc Nguyễn chúa đã Ban thưởng cho Mạc Thiên Tích mở xưởng đúc tiền và tiền đồng xu “An Pháp Nguyên Bảo” đã được lưu hành ở miền nam Việt Nam thời đó.

Về nhân sĩ trí thức, theo ghi chép, Mạc Thiên Tích rất hào phóng chi tiêu tiền tài để chiêu hiền đãi ngộ nhân tài ở Hà Tiên, là những bậc xuất chúng đến từ nhà Thanh, Trung Hoa và những nơi khác. Sự trỗi dậy của nền văn hóa và giáo dục ở Đông Nam bắt nguồn từ ông.

Được sự ưu ái từ các học sĩ, ông tiến hành các đại hội học thuật, biên tập trước tác các tác phẩm văn học nghệ thuật để họ thể hiện sở trường của mình. Năm Bính Thìn (1736), ông khai hội Tao Đàn Chiêu Anh Các, dùng bút nghiên cho các vị thi văn nhân sĩ thảo luận, ghi chép thư tịch, và tác phẩm “Hà Tiên vịnh thập cảnh” của ông được công chúng hưởng ứng ngưỡng mộ một phong cách văn học nghệ thuật xuất hiện lần đầu tiên nơi vùng đất cuối trời Nam Tổ quốc này.

Về mặt lễ nghi học thuật, Mạc Thiên Tích “thiết kế trang phục, áo mão, xây dựng cơ sở giáo dục”, hướng dẫn người dân địa phương giữ gìn gìn bản sắc văn hóa, phong tục tập quán Hán Việt theo kỷ cương quốc thể.

Năm Canh Ngọ (1750), ông kiến lập ngôi già lam Phù Dung Tự. Năm 1752-1758, hai lần ông trở về quê cha đất tổ Quảng Đông, Trung Hoa, thỉnh rất nhiều tượng Phật, Bồ tát và Pháp khí, văn hóa phẩm Phật giáo; trong đó, pho tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu vẫn còn nguyên vẹn, hiện thờ trên điện Ngọc Hoàng;  tượng Phật bằng đồng hiện đang thờ tại chính điện Phù Dung Cổ Tự và bộ Tam tạng kinh (Gia Hưng Tạng) vẫn được bảo tồn rất tốt tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà, Bình Định.

Vào những năm Canh Dần (1770), cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra ở miền Nam Việt Nam, Mạc Thiên Tích hộ giá Quốc chúa Nguyễn Ánh tỵ nạn sang Xiêm La (Thái Lan). Ông bị vua Xiêm La Trịnh Tín (Taksin) nghi ngờ và ông đã tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết vào ngày 5 tháng 10 năm Canh Tý (01.11.1780), hưởng thọ 81 xuân.

Sau khi ông mất, hiếu tử hiền tôn của ông tiếp tục trấn thủ Hà Tiên, và bản thân ông được giới nhân sĩ trí thức Việt Nam tôn kính quý trọng. Nhiều thi nhân Việt Nam đã đến Từ đường họ Mạc và viết nhiều câu đối để tỏ lòng thành kính đối với ông.

Mùa thu, Minh Mạng tam niên (1822), Hoàng đế Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng đã truy phong Mạc Thiên Tích làm “Thần Đạt Nghĩa”.

Tác giả: Thích Vân Phong

Lên đầu trang